chống nhiễm khuẩn


KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHỐNG NHIỄM KHUẨN CỦA ĐIỀU DƯỠNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐKKV XUÂN LỘC NĂM 2007
(KNOWLEDGE-ACTION-PRACTICE)
Ds Hồ Văn Thúc, Ds Lê Thị Diệu Phong, CN Hồ Thị Diễm Trang, Đd Lâm Trần Như Xinh và cs
I. TÓM TẮT :
Năm 2007 là năm đẩy mạnh công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện. Thực hiện khảo sát kiến thức về chống nhiễm khuẩn trên 81 Điều dưỡng, Nữ hộ sinh, Kỹ thuật viên chúng tôi thấy 100% có kiến thức, thái độ và hành vi chống nhiễm khuẩn bệnh viện nhưng kiến thức và thái độ chống nhiễm khuẩn đầy đủ chỉ có 16% (13/81), thực hành rửa tay đạt yêu cầu về vi khuẩn ở các khoa phòng có nguy cơ cao là 89,3% (25/28) và các khoa còn lại là 66% (35/53)
II. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Năm 1996 Bộ Y tế ban hành quy chế chống nhiễm khuẩn, khoa chống nhiễm khuẩn được thành lập, hoạt động chống nhiễm khuẩn được tăng cường và củng cố. Việc quan trọng đầu tiên là đào tạo chuyên môn từ cơ bản đến nâng cao cho đội ngũ Điều dưỡng, Nữ hộ sinh, Kỹ thuật viên về nhiễm khuẩn, khử khuẩn, vô trùng…từ đó đẩy mạnh thực hành chống nhiễm khuẩn.
Nhiễm khuẩn bệnh viện là vần đề thời sự, quan trọng và cấp bách cần có đáp số. Chúng ta phải có giài pháp ngay từ bây giờ để có thể kiểm soát được nhiễm khuẩn bệnh viện. chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện được triễn khai gần 10 năm qua ở bệnh viện nhưng thật sự vẫn còn nhiều khó khăn trong các biện pháp phòng chống lây lan nhiễm khuẩn : Thiếu kiến thức cập nhật, kỹ năng vô khuẩn trong các thao tác y tế chưa chuẩn…
“Mọi nhân viên y tế cần phải thấy rằng mục tiêu chuyên biệt của họ bắt đầu từ việc vệ sinh bàn tay. Đây là vấn đề cơ bản nhất mà bất kỳ nhân viên nào cũng đều phải thực hiện”. Rửa tay là một phương pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa sự lan truyền vi khuẩn giữa Nhân viên y tế và bệnh nhân. Rửa tay thường quy (social handwashing) là rửa tay với xà bông và nước, đào thải đất cát và phần lớn vi khuẩn vãng lai. Việc làm này có được làm trước khi sửa soạn bữa ăn cho BN, trước khi ăn, trước khi nuôi ăn BN. Một trong những đường lan truyền nhiễm trùng bệnh viện là tiếp xúc trực tiếp bàn tay,
Vệ sinh bệnh viện nhằm duy trì tình trạng sạch sẽ. Những kết quả của việc cọ rửa và khử trùng biến đổi theo sự hiểu biết của con người sử dụng. Việc nhân viên rửa tay là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong việc ngăn ngừa các nhiễm trùng mắc phải trong bệnh viện. Trong hầu hết các hoàn cảnh thì chỉ cần rửa tay thường quy là đủ. Tất cả nhân viên bệnh viện phải rửa tay ngay sau khi đi vào nhà vệ sinh, ngay trước bữa ăn, ngay sau khi thấy tay bị vấy bẩn vào sau khi tháo găng.
Tiêu chuẩn vệ sinh cá nhân là một biện pháp quan trọng trong công việc kiểm soát nhiễm trung bệnh viện. Các chỉ dẫn thực tế về các phương pháp kiểm soát nhiễm trùng cho nhân viên phụ thuộc vào động cơ, sự lặp đi lặp lại và củng cố phải là một phần trong chương trình huấn luyện liên tục cho tất cả nhân viên y tế.
Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi :
Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành chống nhiễm khuẩn của cán bộ điều dưỡng, Nữ hộ sinh, kỹ thuật viên tại bệnh viện.
Nhận xét
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
1. Đối tượng nghiên cứu :là những điều dưỡng, Nữ hộ sinh, Kỹ thuật viên đang công tác tại các khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Hồi sức cấp cứu, Gây mê hồi sức, Liên chuyên khoa, y học cổ truyền, Chống nhiễm khuẩn, Xét nghiệm, Chẩn đoán hình ảnh.
2.Phương pháp nghiên cứu :
2.1. Thiết kế nghiên cứu :
Tiền cứu, thống kê mô tả cắt ngang.
2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu : 81
2.3.Nội dung nghiên cứu :
Xác định tỷ lệ Điều dưỡng có kiến thức đúng về quy trình xử lý dụng cụ, phân biệt khử khuẩn và tiệt khuẩn, nhận biết thế nào là nhiễm khuẩn bệnh viện.
Xác định tỷ lệ Điều dưỡng có thái độ hành vi đúng về loại bỏ chất thải y tế theo đúng quy trình và coi trọng việc rửa tay thường quy là biện pháp hữu hiệu trong phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện.
Xác định tỷ lệ Điều dưỡng thực hành đúng quy trình rửa tay và tỷ lệ nuôi cấy vi trùng trước cũng như sau rửa tay thường quy đạt yêu cầu về vô trùng.
Nhận xét mối liên quan giữa kiến thức và thực hành chống nhiễm khuẩn theo nhóm tuổi, giới, trình độ học vấn, thời gian công tác, khoa phòng có nguy cơ cao…
2.4. Thu thập thông tin và xử lý số liệu :
các biểu mẫu thu thập thông tyin chung, phát phiếu thăm dò cho từng điều dưỡng viên về kiến thức về quy trình xử lý dụng cụ y tế tái sử dụng, kiến thức về khử khuẩn, tiệt khuẩn và thực hành rửa tay thường quy.
Số liệu nghiên cứu được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel 2003 và Minitab 12.21
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU :
Khoa phòng
Tổng số nhân viên khảo sát
Kiến thức đầy đủ
Thái độ đầy đủ
Kiến thức và thái độ đầy đủ
Hồi sức cấp cứu
7
4
3
2
Phẩu thuật
7
2
1
1
Sản
14
10
5
3
Ngoại
11
4
5
2
Liên chuyên khoa
6
2
1
1
Khám bệnh
17
2
6
1
Nhiễm
4
4
1
1
Nhi
8
8
2
2
Nội
7
0
4
0
Cận lâm sàng
13
5
2
0
Điều dưỡng Trưởng
11
4
5
2
Tổng cộng
81
36
28
13
Tỷ lệ %
44,4%
34,6%
16,1%
Khoa phòng
Tổng số nhân viên khảo sát
Thực hành rửa tay đúng quy trình
Kết quả nuôi cấy Vi trùng
Hồi sức cấp cứu
7
5
5
Phẩu thuật
7
5
6
Sản
14
13
14
Ngoại
11
7
8
Liên chuyên khoa
6
3
2
Khám bệnh
17
2
13
Nhiễm
4
2
4
Nhi
8
4
5
Nội
7
3
3
YHCT
3
1
Cận lâm sàng
7
Tổng cộng
81
60
Tỷ lệ %
74,1%
V. BÀN LUẬN :
VI. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ :
1.Kiến thức, thái độ và thực hành CNK của điều dưỡng tại Bệnh viện còn thiếu và chưa hoàn chỉnh
2.Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thưc hành rửa tay
3.Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành là OR= , KTC 95%
Thiếu kiến thức cập nhật
Kỹ năng vô khuẩn trong thao tác y tế chưa chuẩn
Học hỏi kiến thức kỹ năng cần thiết cho thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện (tài liệu, khóa huấn luyện, tham quan học hỏi…)
· Bệnh viện nên tạo điều kiện để mỡ các lớp huấn luyện về kỹ thuật vi sinh cho các kỹ thuật viên ở những trung tâm y tế vùng sâu, giúp họ áp dụng những kỹ thuật vi sinh (cấy, phân lập, định danh, nhuộm gram và làm kháng sinh đồ… ), giúp những cán bộ y tế làm công tác lâm sàng có thêm hướng chẩn đoán phân biệt trong điều trị.
· Trong tương lai, chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục công trình này, đồng thời mỡ rộng ra tìm hiểu sự đề kháng kháng sinh của nhiều chủng vi khuẩn khác, cũng như sẽ đánh giá mức độ đề kháng kháng sinh của những chủng vi khuẩn tại từng khu vực cụ thể trong tỉnh.
1.Chiến lược giáo dục liên tục.
2.Chiến lược giám sát
3. Chiến lược lượng giá Chương trình KSNKBV
4.Caùc biện phaùp can thiệp thích hôïp, kòp thôøi goùp phaàn naâng cao chaát lưôïng đieàu trò, giảm tỷ lệ NKBV, giảm chi phí đieàu trò và giảm tỷ lệ tử vong.
1.Sự đề kháng với thuốc kháng sinh của vi khuẩn và chiến lược sử dụng kháng sinh.
2.Tầm soát nhiễm trùng bệnh viện, huy động tất cả nhân viên y tế trong cơ quan tham gia để đưa ra những biện pháp phòng chống hiệu quả.
3.Điều tra dịch nhiễm trùng bệnh viện.
4.Giám sát, ngăn ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện
Thách thức trong kiểm soát nhiễm khuẩn phải bắt đầu từ nhận thức mới đến hành vi. Phải biết rửa tay là một biện pháp quan trọng nhất trong phòng nhiễm khuẩn bệnh viện, từ đó có thái độ biết cần rửa tay trước và sau khi chăm sóc BN và thay đổi hành vi luơn luôn rửa tay sau khi chăm sóc BN. Củng cố lý thuyết về nhiễm khuẩn để mọi người hiểu, lúc ấy sẽ tao ra động cơ và đưa đến nhu cầu cá nhân
Chăm sóc sạch là chăm sóc an toàn
Trao yêu thương xi đừng trao vi khẩn
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO :
  1. Bộ y tế (2003), Tài liệu hướng dẫn quy trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện, tập 1, Nhà xuất bản y học, Hà nội.
  2. Bs CKII Nguyễn Thị Thanh Hà (2007), Tiến tới không có nhiễm khuẩn bệnh viện- Cách nhìn mới của hội nghị kiểm soát nhiễm khuẩn khu vực Châu á Thái bình dương lần III, tai Malaysia 7/2007, Bệnh viện Nhi đồng I Tp Hồ Chí Minh.
  3. Ts Lê Thị Anh Thư (2007), Có thể thay đổi hành vi của nhân viên y tế trong thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn?, Bệnh viện Chợ rẫy.
  4. Nicky Nixon RN (1996), Control of infection in hospitals, Nguyen Tri Phuong Hospital Ho Chi Minh city.

Không có nhận xét nào: